Shop Mobile More Submit  Join Login

Similar Deviations
Tranh tái hiện lính Đàng Trong vào khoảng thế kỷ XVI, vẽ theo kiểu osprey.

Tranh này là bức mình vẽ cho dự án của bạn Empoleon92, mô tả một người lính dưới quyền chúa Nguyễn thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Lính nhà Nguyễn được trang bị giáp Lamellar và hộ tâm phiến mặc ngoài cùng. Các vũ khí được trang bị giáo, gươm, quả mù, súng, cung composite,... là cái loại vũ khí phổ biến vào thời bấy giờ.

Trịnh-Nguyễn phân tranh là thời kỳ phân chia giữa chế độ "vua Lê chúa Trịnh" ở phía Bắc sông Gianh (sử gọi là Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong), mở đầu khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên năm 1627 và kết thúc vào cuối thế kỷ 18 khi nhà Tây Sơn dẹp cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh. Nước Việt Nam bị chia cách hơn 100 năm.

Về mặt lý thuyết cả hai thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu "phù Lê diệt Mạc" để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê. Nhưng trên thực tế thì khác, cả hai đều muốn tạo nên thế lực cho riêng mình và thèm muốn ngai vàng. Biến vua Lê thành bù nhìn để che mắt thiên hạ. Diễn cảnh của nước Đại Việt thời đó không khác gì Tam Quốc phân tranh vào cuối thời Đông Hán ở Trung Quốc.


---------------------------------------------------------------

I drew this for Empoleon92's project, this is a ancient Vietnam soldier - Nguyen soldier in Trinh-Nguyen war.

The Trịnh–Nguyễn War (Vietnamese: Trịnh-Nguyễn phân tranh; 1627–73) was a long war waged between the two ruling families in Vietnam.
Both the Trịnh and the Nguyễn families were descended from close friends and aides to the hero-Emperor Lê Lợi who freed Vietnam from Chinese rule and started the Lê Dynasty in 1428. By 1520 a succession of weak kings had brought the country into a state of civil war (see Lê Dynasty's civil war). For the next 20 years the Trịnh and Nguyễn families fought as allies against the usurper Mạc Đăng Dung. In theory, they both were fighting on behalf of the Lê Emperor (Lê Trang Tông) but in reality, the Emperor was a figurehead with little or no power.

In 1672, the Trịnh army made a last effort to conquer the Nguyễn. The attacking army was under the command of Trịnh Tạc's son, Trịnh Căn, while the defending army was under the command of Nguyễn Phúc Tần's son Prince Nguyễn Phúc Thuận.[citation needed] The attack, like all the previous attacks on the Nguyễn walls, failed. This time the two sides agreed to a peace. With mediation supplied by the government of the Kangxi Emperor, the Trịnh and the Nguyễn finally agreed to end the fighting by making the Linh River the border between their lands (1673). Although the Nguyễn nominally accepted the Lê King as the ruler of Vietnam, the reality was, the Nguyễn ruled the south, and the Trịnh ruled the north. This division continued for the next 100 years. The border between the Trịnh and the Nguyễn was strongly guarded but peaceful.
Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.

A multitude of firearms used by feudal Việt armies in their last 500 years. In chronological order: "hỏa đồng" or handgonne employed by Lê Thánh Tông's army; the "Phật lăng" or Western style breech loading cannon, either purchased or locally made by the Nguyễn and Trịnh; late Trịnh's-Nguyễn's and Tây Sơn's line infantry were furnished with "thạch cơ điểu thương"-flintlock musket; and finally the "đoản mã"-horse trooper's pistol of the light cavalry.

Các loại hỏa khí được quân đội Đại Việt phong kiến sử dụng trong 500 năm. Theo thứ tự thời gian: "hỏa đồng" của quân Lê Thánh Tông; "Phật lăng Cơ"-súng kiểu Tây biên chế trong quân đội Trịnh-Nguyễn; súng "Thạch cơ điểu thương" của quân Trịnh-Nguyễn và Tây Sơn; cuối cùng là "đoản mã súng"- súng ngắn trên ngựa của quân khinh kỵ. 
Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.

Cataphract (hay Thiết kỵ binh) là binh chủng kỵ binh hạng nặng được sử dụng phổ biến vào thời phong kiến của nhiều nước trên thế giới, được trang bị rất kỹ càng và công phu, với lớp giáp phủ kín bảo vệ toàn thân kỵ sĩ và ngựa chiến. Đội quân này thường là những đơn vị lính chuyên nghiệp, tinh nhuệ, được đào tạo huấn luyện bài bản, nên từ lâu đã trở thành một quân chủng đáng sợ trên chiến trường. 

Ở Việt Nam chưa có tài liệu đề cập rõ lính thiết kỵ xuất hiện lần đầu vào lúc nào, nhưng có một điều rõ ràng rằng, đến thời Lê Trịnh binh chủng này rất được chú trọng phát triển và đã là một trong những đội quân chủ lực của lực lượng gia tộc họ Trịnh. Theo sử ký toàn thư cho biết, ngày 27 [ năm Quang Hưng thứ 14 (1591) ] 2 bên quân Trịnh và quân Mạc đối mặt với nhau, " lại chọn 400 quân thiết kỵ xông lên trợ chiến"... ngày 30, Trịnh Tùng cho quân tiến đánh Thăng Long, nhằm tiêu diệt hoàn toàn quân Mạc, "bèn tiến quân, sai Nguyễn Hữu Liêu đem 5000 quân tinh nhuệ và voi khoẻ cùng ngựa bọc sắt, đến giờ Dần, thẳng tiến đến đóng ở cầu Cao tại góc tây bắc thành Thăng Long, phóng lửa hiệu, bắn liền bảy phát, thiêu đốt nhà cửa, khói lửa khắp trời". Như vậy, trong cuộc chiến của họ Trịnh diệt quân Mạc, lấy lại ngôi vị hoàng đế cho họ Lê, thì quân đội thiết kỵ là 1 trong những quân tiên phong chính yếu, góp phần rất lớn cho thắng lợi hoàn toàn của quân Lê Trịnh trước nhà Mạc.

Tranh thể hiện lính thiết kỵ mặc giáp (lá) phiến, một trong 3 loại giáp được dùng phổ biến nhất trong lịch sử quân sự thế giới, từ Á Âu đều sử dụng, đặc biệt ở vùng Á Đông. Mũ trụ, khiên và giáo phục chế theo cổ vật Đại Việt và đồ phục chế (thời Trần) Tất nhiên, yếu tố fantasy
vẫn còn khá nhiều, nhưng tác giả cũng đã cố gắng tái hiện gisp trụ Việt một cách chân thực nhất có thể.
Tranh này do bạn silverwolfnmc thực hiện ( dành cho 1 project về vũ khí Việt Nam), và bạn kawaiihohoemi  edit, hoàn thành nốt tác phẩm :happybounce: (mình chỉ là người đăng hộ nó lên thôi :meow: , vì một vài lý do 2 bạn thực hiện không trực tiếp đăng được :meow:)

Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.

A (incomplete) portray of various cultures-polities in East Asia in the 16th and early 17th centuries.
North West: Mongols, Turkic and Uyghur nations. Metal scales and chainmail were primary constituents of their armour.
South West: Hmong, Bai-Yi and Lo Lo people. These people utilized rhinoceros or buffalo hide lamellae which were abundant as well as lightweight and effective.
Center left: Ming Chinese. Chinese soldiers had switched from the Tang-Song style to Mongols' plated mail and brigandine, which were more practical than showy.
Center right: Joseon Korean. Like Ming Chinese, brigandine and plated mail were favored by Korean.
North: Jurchen Manchu. Like Ming Chinese, brigandine and plated mail were favored by Manchurian. In the centuries to come, even brigandine would be discarded.
South: Dai Viet Vietnamese. Tang-Song style armour, such as the tiger-headed "Hổ quan" helmet were still retained. Nonetheless brigandine may have also been employed. Single piece steel breast plates have been discovered in small number, which could withstand stray bullets and shrapnel. 
Upper East: Ainu and Siberian. Their armour had been seemingly unchanged for thousands of years. Bones and hides were still very common alongside metal lamellar suits.
Lower East: Japanese. 17th century armour were substantially distinct from the splendid gears of the old. Chainmail and laminated steel suits supplanted the more costly lamellar armour, on the other hand provides more protection against bullets and arrows. 

Các dân tộc và quốc gia ở Đông A tk16, đầu tk17
Góc trên bên trái: Mông Cổ, Thổ, Hồi Hột
Góc dưới bên trái: Hmông, Bạch, Lô Lô
Giua bên trái: Minh
giữa bên phải: Triều Tiên
Trên: Mãn Châu Nữ Chân
Dưới: Đại Việt
Góc trên bên phải: Siberia và Ainu
Góc dưỡi bên phải: Nhật
Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.

Old sketch
A friend asked me to sketch this for his history project .I think I failed :iconlazypoolplz: Following the discription wasn't fun at all.....
Bộ binh của chúa Trịnh thời Hậu Lê
Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.

Phục dựng khôi giáp thời Lê dựa trên tượng đá lăng vương phi Nguyễn Thị Ngọc Diễm và cổ vật áo giáp sắt thời Lê Mạc 3.bp.blogspot.com/-LDM1y2fgVb0…

Reconstruction of a Lê's armored trooper, based on statues guarding Lady Nguyen Thi Ngoc Diem's mausoleum. The cuirass seems to be of the same type as this 3.bp.blogspot.com/-LDM1y2fgVb0…
Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.

Tranh vẽ người lính nhà Nguyễn ở Quảng Nam tk 17. Theo "Ngàn năm áo mũ" của Trần Quang Đức, đàn ông thời kỳ này mặc áo giao lĩnh bên ngoài, phần nhiều để tóc dài nhưng cạo chỏm. Khí giới chính của người lính này là súng hỏa mai.

A sketch of a Nguyen soldier in Quang Nam, 17th century. He wears a cross -collared robe, with long hair and shaved forehead like many males of the time (from Tran Quang Duc's "A thousand years of cap and robe"). His main armament is a matchlock musket. 
Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.

Thiết kỵ binh nhà Trịnh (Trịnh clan's heavy cavalryman)
Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.

Here the line: kawaiihohoemi.deviantart.com/a…

Tranh này là bức mình vẽ cho dự án của bạn Empoleon92, mô tả một người lính dưới quyền chúa Nguyễn thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Lính nhà Nguyễn được trang bị giáp Lamellar và hộ tâm phiến mặc ngoài cùng. Các vũ khí được trang bị giáo, gươm, quả mù, súng, cung composite,...

Trịnh-Nguyễn phân tranh là thời kỳ phân chia giữa chế độ "vua Lê chúa Trịnh" ở phía Bắc sông Gianh (sử gọi là Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong), mở đầu khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên năm 1627 và kết thúc vào cuối thế kỷ 18 khi nhà Tây Sơn dẹp cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh. Nước Việt Nam bị chia cách hơn 100 năm.

Về mặt lý thuyết cả hai thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu "phù Lê diệt Mạc" để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê. Nhưng trên thực tế thì khác, cả hai đều muốn tạo nên thế lực cho riêng mình và thèm muốn ngai vàng. Biến vua Lê thành bù nhìn để che mắt thiên hạ. Diễn cảnh của nước Đại Việt thời đó không khác gì Tam Quốc phân tranh vào cuối thời Đông Hán ở Trung Quốc.

---------------------------------------------------------------

I drew this for Empoleon92's project, this is a ancient Vietnam soldier - Nguyen soldier in Trinh-Nguyen war.

The Trịnh–Nguyễn War (Vietnamese: Trịnh-Nguyễn phân tranh; 1627–73) was a long war waged between the two ruling families in Vietnam.
Both the Trịnh and the Nguyễn families were descended from close friends and aides to the hero-Emperor Lê Lợi who freed Vietnam from Chinese rule and started the Lê Dynasty in 1428. By 1520 a succession of weak kings had brought the country into a state of civil war (see Lê Dynasty's civil war). For the next 20 years the Trịnh and Nguyễn families fought as allies against the usurper Mạc Đăng Dung. In theory, they both were fighting on behalf of the Lê Emperor (Lê Trang Tông) but in reality, the Emperor was a figurehead with little or no power.

In 1672, the Trịnh army made a last effort to conquer the Nguyễn. The attacking army was under the command of Trịnh Tạc's son, Trịnh Căn, while the defending army was under the command of Nguyễn Phúc Tần's son Prince Nguyễn Phúc Thuận.[citation needed] The attack, like all the previous attacks on the Nguyễn walls, failed. This time the two sides agreed to a peace. With mediation supplied by the government of the Kangxi Emperor, the Trịnh and the Nguyễn finally agreed to end the fighting by making the Linh River the border between their lands (1673). Although the Nguyễn nominally accepted the Lê King as the ruler of Vietnam, the reality was, the Nguyễn ruled the south, and the Trịnh ruled the north. This division continued for the next 100 years. The border between the Trịnh and the Nguyễn was strongly guarded but peaceful.
Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.

Câu chuyện về công chúa Huyền Trân là câu chuyện làm mình nhớ về những vần thơ quay quắt u buồn của Chế Lan Viên, thế nên dù thấy cậu chuyện của nàng ko đến nỗi bi thảm như những câu chuyện về những mỹ nhân Việt xưa (vì dù gì thì cuối cùng nàng cũng được quay trở lại quê hương và tìm được sự giải thoát tâm hồn khi đến với Phật pháp) nhưng luôn có vẻ u hoài... (khỉ thật tâm trạng ko đc tốt lắm khi viết mô tả này =''''=)

Princess Huyền Trân (Vietnamese: Huyền Trân Công Chúa, 玄珍公主) (1289-after 1330?) later Queen Paramecvariin of Champa, was a princess during the Trần Dynasty in the history of Vietnam.
She was the daughter of Emperor Trần Nhân Tông and the younger sister of Emperor Trần Anh Tông. In 1306 Trần Anh Tông married off princess Huyền Trân to the Champa King Jaya Sinhavarman III (Vietnamese: Chế Mân, 制旻) and as Queen Paramecvariin of Champa, in return for the two provinces of Chau O and Chau Ly (or Chau Ri) (today these provinces are Quảng Bình Province, Quảng Trị Province and Thừa Thiên–Huế Province).

There are few details in the historical record about princess Huyền Trân's life. She was born in 1289 but her year of death is unclear. In 1293 Emperor Trần Nhân Tông abdicated in favor of his son, Trần Anh Tông, in order to join a monastery in a pagoda on Mount Yen Tu in what is now Quảng Ninh Province. In 1301, the Emperor's father, Trần Nhân Tông, visited the Champa kingdom and was given a lavish royal welcome by King Jaya Sinhavarman III. The visit lasted nine months. When Trần Nhân Tông left Champa for Đại Việt (the name of Vietnam at the time), he promised to give his daughter in marriage to king Jaya Sinhavarman III even though the Cham king was already married and that Cham queen was a Javanese named Tapasi. Jaya Sinhavarman III thereafter sent many envoys to Đại Việt to urge the Trần King to carry out the marriage plan as Trần Nhân Tông had promised but the Emperor refused. Among the Emperor's men, only General Van Tuc Dao Thai and Minister Trần Khắc Chung supported the marriage. In 1306 Jaya Sinhavarman III offered to cede the two Cham provinces of Chau O and Chau Ly as a dowry and Trần Anh Tông finally agreed to give his sister in marriage to the Cham king. Princess Huyền Trân went to Champa but a year later, in May 1307, Jaya Sinhavarman III died and the crown prince sent an ambassador to Đại Việt to offer white elephants as gifts and announced the death of his king. According to Cham tradition, all of the royal wives would be cremated with the dead king. King Trần Anh Tông ordered a general named Trần Khắc Chung to go to Champa to officially attend the funeral but the real mission was for Trần Khắc Chung to rescue Huyền Trân and take her back to Đại Việt by boat. The trip back took a year. Legends had it that Trần Khắc Chung fell in love with Princess Huyền Trân and the two disappeared from sight together but there is no historical proof to back up this story.
Show
Add a Comment:
 
No comments have been added yet.